Sign up

Làng bên phố hay Sông lấp thuở nào?

Published on 22:14, 12/20,2009

“LÀNG BÊN PHỐ” HAY LÀ “SÔNG LẤP” THUỞ NÀO ?

Xuân Nam

 

I/ SỐNG VÀ SÁNG TÁC.

      Lê Viết Liệu sống nép mình trong một xóm nhỏ ở ấp Cầu Hai (Đồng Phú- Bình Phước). Từ nhà anh chỉ bước mấy bước chân nữa là ra Quốc lộ 14, xe cộ ầm ào suốt ngày đêm. Bên kia là Nghĩa trang liệt sỹ tỉnh. Những hàng bia mộ trắng xóa dưới chân đồi. Vùng đất anh sống đan xen giữa quá khứ và hiện tại. Đan xen giữa những người dân đất Nghệ thật thà, chất phác với con đường và phố phường náo nhiệt. Và bên kia nghĩa trang liệt sỹ; sự sống và cái chết, sự hữu hạn của đời người và cõi vĩnh hằng luôn trăn trở trong anh.. Thơ Lê Viết Liệu chứa đựng cái đan xen ấy. Người sống giữa thời nay nhưng tiếng lòng lại dẫn dắt ta về với cõi xưa. Bước chân người đã rời quê nhưng hồn lại còn nương náu ở quê nhà. Hình như mỗi cảnh vật nơi vùng đất mới chỉ là hình ảnh hiện hữu để Lê Viết Liệu nói với ta về cảnh xưa. Kể cũng phải thôi, tuổi đã về già, 65 rồi chứ ít gì. Tuổi xế chiều người ta sống bằng hoài niệm. Vũ Bằng viết Thương Nhớ Mười Hai cũng bằng hoài niệm của người xa quê. Lui lại mấy thế kỷ trước thì cụ Tú Xương lại nhớ quê ngay trên mảnh đất quê hương của mình (Sông Lấp). Đêm đêm Lê Viết Liệu thao thức bên ngọn đèn nhỏ. Anh sáng phát ra chỉ đủ soi mấy vần thơ trên trang giấy mỏng manh. Ngoài kia tiếng xe đò vẫn mải miết hành trình ra Bắc. Xe lội ngược Trường sơn, nơi con đường mòn của thời chiến Lê Viết Liệu đã từng xông pha. Anh đã để lại một phần xương thịt trong chiến tranh. Hòa bình rồi lại ngồi nhớ quê, nhớ làng! Thơ Lê Viết Liệu trăn trở lắm. Anh trăn trở về nỗi đau của cuộc chiến. Những đồng đội còn nối tiếp nhau nằm trên ngọn đồi nghĩa trang. Những người mẹ, người vợ và những đứa con của đồng đội còn gánh trong mình nỗi đau chiến tranh.

II/ NGHỊCH CẢNH CỦA LÀNG BÊN PHỐ.

   Nhưng thôi ta hãy trở về ngôi làng của Lê Viết Liệu. Ngôi làng ấy ở đâu? Hình như là ở đất Bắc “ Ai đi về Bắc cho theo với – Nhắn với non sông giống Lạc Hồng – Từ Thuở mang gươm đi mở cõi – Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ). Thơ Lê Viết Liệu chưa mang được cái tầm vóc khí phách của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ nhưng đất Bắc như một nguồn cội tự hào vẫn tuôn chảy trong huyết quản của người xa quê. Lê Viết Liệu thì thầm với ta về làng xưa. Nhưng cái làng ấy lại đăt trong nghịch cảnh của thời nay. Cái thời chúng ta đang tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cái thời của sự vận động và mở cửa. Sự phát triển của vật chất kéo theo sự thay đổi những giá trị tinh thần. Thơ Lê Viết Liệu không xa lạ gì với những vấn đề có tính thời sự xã hội. Cái mà ta gọi là mặt trái của cơ chế thị trường. Lê Viết Liệu bắt mạch được đúng cái lằn ranh của sự vận động ấy. Nên thơ anh, tâm hồn anh nhạy cảm lắm. Làng của anh là Làng Bên Phố. Đó chính là bước chuyển đổi của làng quê nông thôn Việt Nam trong buổi vặn mình đi lên. Trong quá trình ấy không phải là không có những mất mát. Nói như Nguyễn Bính: Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều. Trở lại với Làng bên phố, ta thấy mạch thơ của anh chậm buồn. Tôi nghe như tiếng thì thầm. Mà không phải tiếng thì thầm. Đó chỉ là ý nghĩ anh tự trăn trở với mình: Làng xưa vẫn ở nơi này Tiếng gà khuya vẫn gọi bầy trong mơ Lối mòn cỏ vẫn xanh bờ Cổng cao tôi bỗng hững hờ bước chân. Lê Viết Liệu không ngủ. Anh thao thức trong đêm. Anh mường tượng ra ngôi làng xưa của mình. Có tiếng gà xa lắm trong đêm khuya thanh vắng. Tiếng gà ấy chỉ là tiếng gà trong tiềm thức. Nó mơ hồ lắm. Tiếng gà khuya mà. Rồi một vạt cỏ mờ xanh trong ký ức xa xôi hiện về. Tất cả những hình ảnh đó chỉ có trong tiềm thức vì nó không rõ nét. Nó mờ ảo và hình như chỉ có trong ý nghĩ. Câu thơ thứ tư bỗng bất ngờ đánh thức hồn Liệu. Anh trở về với thực tại: Cổng cao tôi bỗng hững hờ bước chân. Từ đây Lê Viết Liệu mới bắt mạch với cuộc sống hiện tại. Một loạt hình ảnh bất ngờ hiện lên: Vườn ai sang nhượng mấy lần Cây chanh cây bưởi sống gần bon sai Nhà cao khuất ánh ban mai Cánh cò đồng hẹp đơn côi giữa trời. Thì ra Lê Viết Liệu rất tỉnh. Anh không chìm trong mơ hồ đâu. Bằng chứng là những câu thơ của anh rất thời sự. Nhịp của ba câu thơ đi rất nhanh. Anh đang lia ống kính vào hiện thực đời sống. Anh liệt kê ra vườn nhà ai sang nhượng. Mà sang nhượng tới mấy lần kia. Mảnh vườn bây giờ được nhắc đến bởi giá trị kinh tế. Nó không phải là “Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh” của Tế Hanh. Những giá trị tình cảm đầy vơi kỷ niệm ấy của nhà thơ họ Tế đã xưa lắm rồi. Còn cây chanh, cây bưởi đang sống gần với bon sai. Lê Viết Liệu đang tiếc nuối. Anh đau nỗi đau của sự mất mát. Cây chanh, cây bưởi thân thuộc (Me gội đầu bằng lá bưởi, lá chanh) giờ đây đang sống gần bon sai. Và rồi bon sai – loại cây quý tộc ấy sẽ thay thế. Mà không thay thế thì chính bản thân cây chanh, cây bưởi cũng sẽ bị lai ghép. Tự thân nó sẽ thay đổi. Trong dân gian thường có những so sánh: Vàng thau lẫn lộn, Gần mực thì đen gần đèn thì rạng, Khốn thay hạc đứng cạnh bầy gà – Ngọc đá ai hay biết rõ mà…. Lê Viết Liệu đưa được hình ảnh hiện đại: Cây chanh, cây bưởi sống gần bon sai. Cây chanh, cây bưởi là hình ảnh dân dã thân thuộc còn bon sai là loại cây quý tộc. Loại cây của nhà giàu. Câu thơ mô tả đời sống rất tự nhiên. Nhưng nó có kết cấu như một thành ngữ giàu chất triết lý nhân sinh. Một ngày nào đó để diễn tả hoàn cảnh nghịch lý biết đâu ta chả nói: Cây chanh, cây bưởi sống gần bon sai! Hàm ý của câu thơ sâu sắc là vậy.       Trong bài Xuống phố Lê Viết Liệu lại có hình ảnh tương tự: Lâu ngày xuống phố mua hàng – Tiệm đồng chỉ cách tiệm vàng vài phân. Cái hiện đại của phố phường đang chen lấn làng xưa: Ngôi nhà cao tầng mọc lên chắn hết cả làn gió và ánh sáng ban mai. Và còn đâu những cánh đồng mênh mông lộng gió! Nhịp ba câu thơ đi nhanh và gắt. Tâm Trạng tác giả dị ứng với những giá trị truyền thống đang bị thay đổi trong cơ chế thị trường. Câu thơ thứ tư: Cánh cò đồng hẹp đơn côi giữa trời. Nhịp thơ giãn ra, chùng xuống, chậm lại. Sau từng ấy sự kiện có tính thời sự, câu thơ cuối như một dấu cảm không cần lời bình. Tôi hình dung ra Lê Viết Liệu như một cánh cò đơn côi bay giữa trời, giữa đời và giữa bao nhiêu kiếp người mà vẫn một niềm riêng đau đáu.

III/ HOÀI NIỆM HỒN QUÊ

      Lê Viết Liệu tìm lại làng xưa nhưng anh không giống Kim Trọng trở lại vườn Thuý: Đi về này, những lối này năm xưa. Anh chỉ tìm về bằng hoài niệm. Thân xác anh còn bận áo cơm lập nghiệp nơi vùng đất mới nhưng hồn anh lại nương theo ngọn gió mùa thu. Anh tìm về với lời ru của mẹ, với buổi tình tự đắm say quên cả thời gian. Tôi về tìm lại làng tôi Quán bia nhạc rock lấp lời mẹ ru Đâu rồi ngọc gió mùa thu Đâu lời tình tự trăng lu cuối đồi. Lê Viết Liệu rất thành công trong việc thể hiện đan xen giữa hiện tại và quá khứ. Ở đầu bài thơ anh khẳng định: Làng xưa vẫn ở nơi này kia mà. Cớ sao bây giờ anh phải đi tìm. Bởi vì làng đã khác xưa lắm rồi. Làng đã lên phố nên tiếng nhạc rock bốp chát, hiện đại đã lấp lời mẹ ru. Chữ lấp rất chính xác. Lấp nghĩa là khoả lấp lại, chôn đi, lấp đất lên. Ta hình dung ra tiếng nhạc rock trong quán bia nhấp nháy ánh đèn. Những bước chân dậm giật, những cặp mông chật căng trong những lớp quần bò rất Tây. Giữa cái cảnh ấy Lê Viết Liệu làm thức dậy trong tiềm thức ta lời mẹ ru dịu dàng trong gió mùa thu và tiếng võng à ơi sau luỹ tre làng. Anh còn gợi lòng ta nhớ đến mối tình hò hẹn buổi ban sơ. Đâu rồi cái buổi thần tiên của tình yêu ban đầu ấy? Nói rồi lại nói lời chưa hết lời. Trăng lu là trăng đã mờ dần. Trăng đã vượt qua đỉnh đầu chuyển dần về sáng. Thế mà lời tình tự say đắm vẫn chưa dứt. Hai từ đâu rồi lặp lại nghe sao tiếc nuối, buồn tênh. Lê Viết Liệu hỏi đấy nhưng Liệu biết không còn. Liệu nhớ đến mẹ, nhớ đến ngọn gió mùa thu và mối tình chân quê làm ta chùng lòng. Người em – nhân vật trữ tình trong buổi hẹn họ ấy đã đi theo tiếng nhạc rock ra phố. Bước chân Lê Viết Liệu tìm về làng sao mà cô đơn: Em đi theo phố xa vời Tôi về chỉ một mình tôi ngày nào Thoảng nghe sóng vỗ cầu ao Khuôn trăng tan giữa muôn màu đèn đêm Em của Liệu đã ra phố nhộn nhịp người buôn kẻ bán. Em theo người ta thôi. Đi theo có nghĩa là không chủ động đâu. Em bị cuốn đi.       Hai chữ xa vời không phải là nói về khoảng cách của địa điểm. Cũng không phải là cái cảnh mịt mù dặm khách của nàng Kiều trong buổi lìa xa cha mẹ. Vì làng bên phố mà. Nó ở ngay gần bên thôi. Thế mà sao xa cách quá . Hai chữ xa vời ấy chính là khoảng cách trời -vực giữa em của ngày xưa và em của bây giờ. Hai con người ấy chung một mối tình ban sơ. Chung một đêm trăng hò hẹn. Chung một làng và lớn lên trong lời mẹ ru. Họ còn có nhiều cái chung nữa: Soi chung bóng mình bên cầu ao. (Rửa chân hai buổi cầu ao – Em thẹn cúi đầu khỏa bóng). Và họ ngắm chung một vầng trăng dưới đáy nước. Nhưng bây giờ đường tình hai ngả. Một người ra phố, một người trở về làng. Biết đâu bất ngờ Liệu chả gặp trong quán bia nhạc rock. Biết đâu nàng Tô Thị chả ngã vào lòng của gã bia ôm? Tất cả rất có thể xảy ra vì làng đã ở bên pho và Cây chanh, cây bưởi cũng đã sống gần bon sai! Tôi thấy Liệu trở về làng cô đơn lắm. Hai chữ tôi trong câu Tôi về chỉ một mình tôi ngày nào thể hiện rõ điều đó. Lê Viết Liệu không có ai đồng hành. Anh chỉ có một mình thôi. Cuộc hành trình trở về của Liệu là cuộc hành trình trở về trong tâm tưởng. Hai chữ ngày nào thể hiện Liệu chỉ sống với ký ức ngày xưa. Trong cái vùng ký ức ấy có khi hiện rõ, có khi mờ ảo. Liệu nghe bằng thính giác Thoảng nghe. Có nghĩa là tiếng sóng ở cầu ao không rõ rệt lắm. Nó nhẹ nhàng lướt qua tai. Nó có thể có thực và không có thực. Nó có thể có trong hiện tại nhưng cũng có thể là trong quá khứ hiện về. Điều đáng lưu ý là hình ảnh làng xưa mong manh lắm. Ngay cả vầng trăng cũng đang bị ánh đèn đêm lấn át: Khuôn trăng tan giữa muôn màu đèn đêm. Làng bên phố có 16 câu thơ nằm tròn trong 4 khổ thơ lục bát. Nó làm chúng ta giật mình. Ta liên tưởng đến Sông Lấp. Hình như chìm sâu trong cõi tâm hồn người dân nước Việt có một quá khứ vẫn âm ỷ đồng hành. Tâm hồn của con người thời hiện đại vẫn bâng khuâng với cảnh cũ làng xưa.       Chúng ta bước chân về với phố phường hiện đại mà đâu đó vẫn văng vẳng tiếng gà khuya. Một vạt cỏ xanh mé bờ ruộng, mấy cây chanh, cây bưởi thân thuộc sau vườn, cánh cò đơn côi lúc chiều về, làn gió buổi thu sang và lời ru của mẹ vẫn sống mãi trong ký ức ta. Ta nhớ buổi hò hẹn ban đầu với em, nhớ vành trăng lu cuối chân đồi, nhớ làn sóng thoảng qua dưới cầu ao, lòng bỗng chùng lại trên con đường vất vả mưu sinh. Giá trị nhân văn của Làng bên phố là giá trị chúng ta đang trân trọng nâng niu– Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

X.N


“Đi Và Nhặt" - Chạnh Lòng Chuyện Đời

Published on 20:16, 11/18,2009

 

Tôi đã xa Tùng Bách từ lâu. Mười hai năm rồi không gặp lại. Lần tôi gặp Tùng Bách ở Vũng Tàu cũng chỉ biết loáng thoáng. Nghe nói anh mới chuyển công tác sang Hội Nhà báo tỉnh. Thế rồi tôi lại gặp anh qua thơ. Có lẽ duyên nợ chăng. Một buổi sáng Tổng biên tập đảo qua phòng Thư ký Toà soạn: - Nam xem hý họa về Nguyễn Đức Thiện này. Tôi cầm tập thơ và đọc: Những cái ngoài đời khó nói - Thì cho nó vào trong văn. Thế là đủ tin cậy Đi và Nhặt là tập thơ đích thực. Tôi nhớ tới lần trò chuyện với Trần Đăng Khoa ở phố Lý Nam Đế (Hà Nội). Trần Đăng Khoa bảo: -Tớ chỉ làm thơ cho mình mà thôi. Thơ viết cho mình đọc, mình mới viết thật. Mình trân trọng cái tôi của mình. Cái tôi của mình lại đồng cảm với bao nhiêu cái suy nghĩ của người khác thế là giá trị của nó được nhân lên.

          Tùng Bách cứ Đi và Nhặt. Anh lội qua cánh đồng thơ bằng đôi chân đất. Không xiêm áo, mũ nón; không cần vần điệu chắp cánh, anh nói một cách chẻ hoe trong thơ. Những vấn đề nhạy cảm ngoài đời không thể nói thì đưa cả vào trong thơ:

Ba chục năm cảm tình Đảng

 Xem ra ý chí có thừa

Chỉ tội cái mồm choang choác

Gần sáu mươi rồi vẫn ...chưa! (Hý Hoạ).

          Còn một tay không thể vỗ tay

          Giữa chốn đông người vỗ đùi e không tiện

          Còn một tay - Tôi có ý kiến

          Còn một tay - Tôi biểu quyết

   (Ý kiến và biểu quyết không cần phải có hai tay)

          Những vấn đề như thế này có thực ở cuộc sống chúng ta. Nó là vấn đề xã hội. Với lối nói thẳng, nói thật không ai có thể chụp mũ anh. Đây là tiếng nói của một nhà thơ có trách nhiệm, nhà thơ công dân. Chúng ta đang đấu tranh xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trên bước đường tiến về đích chúng ta chợt nhận ra sự bất hợp lý, thiếu khoa học và lỗi thời trong những chuẩn mực chúng ta đã từng dựng lên. Ví dụ như cơ chế hành chính cồng kềnh, kém hiệu quả; bệnh thành tích trong giáo dục. Và còn nhiều bất hợp lý khác nữa chúng ta đang cải cách loại bỏ để tiến dần đến chuẩn mực khoa học hơn.

          Nói như thế e rằng có báo chí quá không? Không! Thơ là đời mà. Tố Hữu đã từng nói với tôi ở Phan Đình Phùng (Hà Nội) vào mùa đông năm 1997: Tôi không có tài bịa. trong thơ tôi không có gì bịa cả. Tôi viết những gì có thật ở ngoài đời. Không có gì sâu thẳm đa dạng như chính cuộc đời. Câu chuyện như mới hôm nào vậy mà thi nhân đã ra đi mấy mùa thu!

Hậu duệ của thi nhân có cầm bút làm thơ cũng không thể né tránh cuộc đời. Mới hay những nhà thơ chân chính hai chữ trách nhiệm và niềm đam mê sáng tạo. Đó cũng chính là giá trị của mỗi tác phẩm văn chương. Nhưng đôi khi văn chương  cũng là nỗi oan nghiệt gây ra cho tác giả: Tắc kè chết vì đuôi - Lũ trai chết vì ngọc.

Đằng sau câu chữ của Tùng Bách nói gì:

Bệ ngọc, ngai vàng, lọng tàn... đủ cả

Ai thích râu? Có ngay - Râu giả

Làm vua - Năm phút.

Hai chục ngàn đồng!

Nếu có nhu cầu Hoàng hậu? Công công? ...

Cứ mỗi em - Mười ngàn - Năm phút!

•-         Trẫm cần ảnh! Người đâu?

•-         Bố ngồi yên, con chụp!

•-         Trẫm muốn lên xem phim?

•-         Bố cứ thoải mái - Chúng thần quay!

•-         ...

•-         Các khanh thấy ta nhiếp chính thế nào?

•-         Dạ, vừa oách vừa hay!

•-         Vua như bố trên cả tài Nghiêu Thuấn!

Vợ tôi rỉ tai: Hoàng thượng hôm nay I xê hơi bị ẩm

Mấy đời vua tự cầm quạt - quạt như ... hề!

(Ra Huế làm vua)

         Trong mọi thời đại, từ cổ chí kim cũng không hiếm loại hề như thế. Có những ông vua, vị quan dưới chế độ phong kiến chỉ là bù nhìn. Trong xã hội hiện tại cũng có những loại cán bộ thiếu đức, bất tài

          Trong cuộc sống cũng có loại tiến sĩ giấy, công trình khoa học nhái, vẽ ra lấy tiền... Từ câu chuyện người ta đang nghiên cứu Truyện Kiều được Nguyễn Du viết ở đâu (lại công trình vẽ ra lấy tiền), Tùng Bách buộc phải nói thẳng nói thật:

          Thôi nào, để cụ Nguyễn yên

          Đừng giả  với sử thêm phiền lòng nhau

          Truyện Kiều được viết ở đâu?

          Ở ngay trong cõi bể dâu đời này!

          Có những hình ảnh trong thơ Tùng Bách sống động làm ta liên tưởng đến cuộc sống hiện tại.

            Lão Phụng lờ vờ mà đếch gì cũng biết

            Cứ đi guốc đi giày vào gan ruột người ta

          Của đáng tội.

          Không có lão thì thằng Xuân giờ còn múa võ mồm.

          (Chát với Xuân tóc đỏ).

          Ở đâu đó trong cuộc sống chúng ta vẫn còn bắt gặp những nhóm người tạo phe cánh trong các tổ chức trù dập lẽ phải và sự thẳng thắn:

          Khốn nỗi câu nói nào cũng đúng - Nên suốt đời trắng bụng lấm lưng! (Chú Tần)

          Tùng Bách chỉ ra những nghịch lý:

          Có kẻ một thời làm ta ước mơ, nể sợ

          Hót rất hay bài yêu nước thương dân!

          Vâng là vậy mà không phải vậy

          Cái Ác luôn tìm cái Thiện nương thân!

          (Là vậy mà không phải vậy).

          Tùng Bách triết lý về sự phàm tục nơi cõi Phật:

          Ta cứ ngỡ Tây Thiên không còn chỗ

          Cho những cõi thường (phàm tục) nương thân!

          Cảm ơn những bát tộ vàng khất thực.

          Không thì thầy trò ta đâu chỉ nạn bấy nhiêu lần!

          Mỗi bài thơ của Tùng Bách là mỗi câu chuyện về cuộc đời. Ta cảm nhận thấy dư âm của thời kỳ đổi mới, nói thẳng, nói thật.

          Thơ của Tùng Bách viết ngắn gọn, trực diện nhưng sâu sắc. Đề tài của anh là những vấn đề hôm nay. Phong cách thể hiện nhẹ nhàng pha chút hài hước dễ thuộc, dễ nhớ. Anh không cao đàm khoát luận quan trọng hoá vấn đề. Những nhát cắt sự kiện anh đưa vào thơ sắc sảo mang tính thời sự và tính chiến đấu cao giống như cách làm của người làm báo. Nếu tôi không nhầm thì Tùng Bách là một nhà báo làm thơ. Chỉ có điều vấn đề trong thơ anh được nhào nặn qua nghệ thuật của một tâm hồn sinh ra từ quê hương Hà Tĩnh - vùng đất sâu nặng tình thơ tình đời.

Là vậy mà không phải vậy

Tùng Bách

(Nhân xem truyền hình trực tiếp xét xử vụ án Năm Cam và đồng bọn)

Ai đó nói một câu thiệt hay

Là vậy mà không phải vậy

Không phải vậy hoá ra là vậy

Đang là ông

Đùng một cái

Hoá thằng lưu manh

Đang là bác, là chú, đang là anh

Đùng một cái

Hoá lâu la đao phủ

Một - trăm - năm - mươi - lăm bị cáo(???)

Lần lượt xưng danh sau vành móng ngựa

Có kẻ một thời làm ta ước mơ, nể sợ

Hót rất hay bài yêu nước thương dân

Vâng là vậy

Mà không phải vậy

Cái Ác luôn tìm cái Thiện nương thân!

Nỗi niềm ngộ không

TÙNG BÁCH

(Nhân xem phim Tây Du Ký)

Bảy mươi hai phép thần thông biến hoá khô lường

Không thể thoát khỏi bàn tay Phật Tổ

Ta cứ ngỡ Tây Thiên không còn chỗ

Cho những thói thường (phàm tục) nương thân!

Cảm ơn chiếc bát tộ vàng khất thực

Không thì thầy trò ta đâu chỉ nạn bấy nhiêu lần!


Trương Đình Tuấn Một hồn thơ nhiều triển vọng

Published on 13:29, 11/18,2009

 


Trương Đình Tuấn có thơ xuất hiện trên báo Bình Phước từ năm 1997. Trang văn hoá văn nghệ báo Bình Phước trở thành mảnh đất nuôi dưỡng thơ anh. Cũng từ đó, tôi thường ghé qua một lối nhỏ bán rau quả của chợ Đồng Xoài. Nơi đó, anh vẫn cùng người vợ tần tảo ngồi bán trái cây. Với bộ đồ đen sẫm, trên lưng đẫm mồ hôi, khuôn mặt trầm tư và cây viết trên tay, nhiều tứ thơ, bài thơ của Trương Đình Tuấn hình thành tại đây. Anh sáng tạo trong tiếng ồn ã của chợ búa, tiếng mặc cả của kẻ bán người mua, tiếng kêu chao chác của gà, vịt và cả bước chân thậm thịch của người dân quê từ nương rẫy trở về. Lạ thay, hồn thơ của Trương đình Tuấn lại vút lên ngọt ngào đằm thắm như không hề có cái cảnh ồn ào của phố thị.

Thơ anh mang nặng hoài niệm về tình quê, tình người. Trương Đình Tuấn say mê thần tượng về tình yêu ban đầu, đó là cái tuổi thần tiên trong sáng. Đây là chất nhân bản rất đáng quý giữa lúc xã hội xuất hiện ngày càng nhiều lối sống thực dụng trong tình yêu. Trong thơ ca cũng không ít bài mô tả, chìm đắm trong vật chất hoá tình yêu. Có tác giả viết câu thơ đầy mùi da thịt: " Nắng xoa ngực nở sóng vuốt đùi", có tác giả khác lại viết một câu thơ đầy chất sex "Cái hôm mình trượt vào mình - Ôi như đất chảy, ôi hình trời tan!".

Trương Đình Tuấn lặng lẽ quay về với tình yêu ban sơ. Một tình yêu tôn trọng con người và nghiêng về những giá trị tinh thần. Hình ảnh và ngôn ngữ trong thơ Trương Đình Tuấn rất sáng tạo. Tà áo thiếu nữ xuất hiện trong thơ anh như một thiên thần : "Đôi tà bay chạm thiên thu dáng buồn". Câu thơ có cái thực và cái ảo đủ để gợi lên vẻ đẹp thần tiên của người thiếu nữ. Ở những câu khác: "Trắng xa áo, tuyệt sương mù - Vàng phai tàn nhẫn mấy thu rộn ràng", "Ẩn vành nón cũ kiêu sa - Hiện đôi tà lộng áo ngà nguyên khôi". "Tan trường vọng tiếng guốc êm - Hồn reo nắng lạ áo mềm mại bay", "Trắng tinh hai vạt mây mềm, bay về quấn quýt bên thềm nắng xưa", "Nắng lung linh, nắng mượt mà - Vườn xa thấp thoáng mấy tà áo bay".

Có những hình ảnh trong thơ Trương Đình Tuấn rất tinh tế mà ta chỉ thấy được trong giấc mơ tuổi thơ, trong lối cũ, vườn xưa : "Chim chóc còn hót véo von - Vút lên vườn cũ lời ngòn ngọt xưa", rồi hình ảnh rất vô tư hồn nhiên của cô gái: "Người trao ta trái khế chua - Ghé răng nửa miếng muốt mùa nhớ nhau".

Ở tuồi gần ngũ tuần, Trương Đình Tuấn sống lại với những hoài niệm về tình yêu tuổi ban sơ. Anh quay về với quá khứ nhưng không quên thực tại. Cái quá khứ đã qua như một vết thương, nhưng vết thương "mượt mà". Đó là hạnh phúc trong nỗi đau: "Dẫm lên ta một đêm rằm - Gót đay nghiến mãi dấu đằm thắm đau". Người thi sĩ vì cuộc sống mưu sinh cũng phải ra đi: "Cơm áo không đùa với khách thơ". Ra đi nhưng nhưng vẫn một lòng hoài niệm với: "Tiếng guốc gõ vào hư hao - Nhạt nhoà mưa bụi nắng đào nguyên sơ".

Hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu trong thơ Trương Đình Tuấn giàu sáng tạo. Anh thành công hơn cả trong thể thơ lục bát. Cũng đôi khi ta bắt gặp một vài viên sỏi mấp mô trong một số bài thơ. điều đó cũng dễ hiểu. Bước đường thơ vốn luôn gập ghềnh khúc khuỷu mà người làm thơ phải vượt qua. Dù thế thơ Trương Đình Tuấn vẫn thuộc loại hay xuất hiện trên báo Bình Phước mấy năm qua. 



                           Tình Quê

Nhớ sao thuở ấy hồn nhiên
Chuồn chuồn châu chấu bay triền cỏ non
Chim chóc còn hót véo von
Vút lên vườn cũ lời ngòn ngọt xưa

Người trao ta trái khế chua
Ghé răng nửa miếng muốt mùa nhớ nhau
Tình đầu thoang thoảng hương cau
Thôi bây giờ đã qua cầu gió bay.

Xa quê mới tiếc tháng ngày
Xa người mới biết trắng tay chữ tình
Thị thành không mọc trúc xinh
Buyn đinh không đẹp bằng đình làng ta

Bao giờ về dưới cội đa
Chờ nhau nghe nặng tình già hơn xưa
Đường thơm hương lúa đón đưa
Ta tìm nhau giữa nắng mưa ngày nào.
                                T.Đ.T
                                     

                                                                            


Chúc mừng bạn!

Published on 14:10, 12/01,2008

Nếu bạn có thể đọc được bài viết này, có nghĩa là quá trình đăng ký đã thành công và bạn đã có thể bắt đầu blogging